Trang này giúp học sinh lớp 4 và phụ huynh nắm nhanh nội dung Bài 7 “Đo góc, đơn vị đo góc” (SGK trang 23–25) và Bài 8 “Góc nhọn, góc tù, góc bẹt” (SGK trang 26–30) và Bài 9 “Luyện tập chung” (SGK trang 31–32). Chủ đề có 34 hoạt động, trong đó Bài 7 gồm: hai góc trên bảng và tờ giấy bóng kính chồng góc, thước đo góc kéo thả và xoay được để đo góc đỉnh O, đọc số đo trên thước (60°, 90°, 120°, 180°), tranh cột cờ và bờ sông (góc đỉnh N, H, C, D), tứ giác ABCD, đo góc đỉnh B của tam giác ABC, đo góc tạo bởi hai kim đồng hồ lúc 3 giờ, 4 giờ, 6 giờ, 2 giờ, vẽ góc bằng thước đo góc, kéo kim giờ để hai kim tạo góc cho trước và bài kiểm tra ngẫu nhiên. Bài 8 có 15 hoạt động: mở cái thước kẹp để thấy góc nhọn, vuông, tù, bẹt, kéo êke vào đỉnh góc để nhận biết, phân loại góc trên các hình trong sách, chiếc kéo, miếng bánh pizza, mạng nhện, kim đồng hồ, nan hoa bánh xe, vẽ góc và xếp các góc từ bé đến lớn, những chiếc quạt xoè, góc trong hình tam giác ABC và trò chơi giải cứu khủng long. Bài 9 có 9 hoạt động: đo góc bằng thước, hai đường thẳng song song, hình Rô-bốt vẽ, góc ở đồ vật quanh em, vẽ góc trên lưới ô vuông, vận động viên, ngôi đền, hình lục giác có ngôi sao và bài kiểm tra. Từ khoá liên quan: toán 4 bài 7 đo góc đơn vị đo góc, đơn vị đo góc độ, cách dùng thước đo góc, đo góc bằng thước đo góc lớp 4, góc vuông 90 độ, góc bẹt 180 độ, góc tạo bởi hai kim đồng hồ, toán 4 kết nối tri thức chủ đề 2, góc và đơn vị đo góc, toán 4 bài 8 góc nhọn góc tù góc bẹt, cách dùng êke nhận biết góc, góc nhọn là gì, góc tù là gì, toán 4 bài 9 luyện tập chung, vẽ góc trên lưới ô vuông.
Độ là đơn vị đo góc, kí hiệu là °. Ví dụ một độ viết là 1°; sáu mươi độ viết là 60°; góc đỉnh O; cạnh OA, OB bằng 60° nghĩa là số đo của góc đó là 60°.
Đặt thước đo góc sao cho tâm của thước trùng với đỉnh của góc và một cạnh của góc nằm trên đường kính của nửa hình tròn của thước. Cạnh còn lại đi qua một vạch trên nửa đường tròn của thước; đọc số ở vạch đó, bắt đầu đọc từ số 0 ở cạnh nằm trên đường kính, ta được số đo của góc.
Thước đo góc có hai hàng số. Em đọc hàng số bắt đầu từ 0 ở cạnh đang nằm trên đường kính: nếu cạnh đó nằm bên phải thì đọc hàng số bắt đầu từ 0 ở bên phải, nếu cạnh đó nằm bên trái thì đọc hàng số bắt đầu từ 0 ở bên trái.
Góc vuông bằng 90°, ví dụ góc đỉnh H của cột cờ vuông góc với mặt đất. Góc bẹt bằng 180°, hai cạnh của góc nằm trên một đường thẳng, ví dụ hai kim đồng hồ lúc 6 giờ.
Lúc 3 giờ hai kim đồng hồ tạo thành góc vuông, bằng 90°. Lúc 4 giờ góc là 120°, lúc 6 giờ góc là 180°, lúc 2 giờ góc là 60°. Mỗi khoảng từ số này đến số kế tiếp trên mặt đồng hồ là 30°.
Em đo mỗi góc bằng thước đo góc rồi so sánh hai số đo. Độ dài các cạnh không làm góc to hơn hay bé hơn: góc đỉnh O; cạnh OA, OB và góc đỉnh P; cạnh PM, PN đều bằng 60° dù cạnh PM, PN dài hơn.
Góc nhọn bé hơn góc vuông (bé hơn 90°). Góc tù lớn hơn góc vuông nhưng bé hơn góc bẹt (lớn hơn 90° và bé hơn 180°). Góc bẹt bằng 180°, hai cạnh nằm trên một đường thẳng. Góc vuông bằng 90°.
Đặt đỉnh góc cần xét trùng với đỉnh góc vuông của êke và một cạnh của góc trùng với một cạnh góc vuông của êke. Nếu cạnh còn lại nằm trong góc vuông của êke thì đó là góc nhọn; nếu nằm ngoài thì đó là góc tù; nếu trùng cạnh kia của êke thì đó là góc vuông.
Chọn một điểm làm đỉnh và hai điểm khác trên lưới làm đầu của hai cạnh rồi nối lại. Góc vuông có một cạnh nằm ngang và một cạnh thẳng đứng; góc nhọn bé hơn góc vuông; góc tù lớn hơn góc vuông và bé hơn góc bẹt. Ví dụ góc tù đỉnh A; cạnh AL, AG ở bài 1 trang 32.
Lần lượt xét từng đỉnh A, B, C, H và các cạnh xuất phát từ đỉnh đó. Hình có hai góc vuông đỉnh H, bốn góc nhọn (góc đỉnh B, góc đỉnh C, góc BAH, góc HAC) và một góc tù (góc BAC) nếu góc BAC lớn hơn góc vuông.